phụ nữ thái bình tự tin - tự trọng - trung hậu - đảm đang                     đoàn kết - bình đẳng - đổi mới - phát triển
Quan điểm, đường lối
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ cán bộ có ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc

Ngày cập nhật: 20/05/2022

    Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc là nội dung quan trọng trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về học tập, quán triệt chuyên đề toàn khóa Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Trên cơ sở nội dung chuyên đề toàn khóa Đại hội XIII của Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã tham mưu với Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng chủ đề học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng bộ tỉnh các năm từ 2022 đến 2025, trong đó năm 2022 học tập chủ đề: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ cán bộ có ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc”.

Chuyên đề cung cấp những nội dung cơ bản, các giải pháp chủ yếu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhằm phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển quê hương Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX.

Nội dung chuyên đề, ngoài Lời mở đầu và Kết luận, gồm 2 phần:

- Phần thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về tầm quan trọng,  ý nghĩa của việc khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

- Phần thứ hai: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh, phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển của
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân để  phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc.

 

Phần thứ nhất

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ TẦM QUAN TRỌNG,  Ý NGHĨA CỦA VIỆC KHƠI DẬY MẠNH MẼ Ý CHÍ TỰ LỰC TỰ CƯỜNG VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

 Sức mạnh của lòng yêu nước, của chủ nghĩa dân tộc và quá trình khảo nghiệm thực tiễn cách mạng thế giới đã hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đưa người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng vô sản, đặt nền móng cho sự phát triển tư tưởng mác xít ở Việt Nam, tạo ra những điều kiện cốt lõi đưa đến những thành tựu thành công của cách mạng nước nhà.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường

- Tự lực, tự cường là độc lập tự chủ, không trông chờ, ỷ lại, phụ thuộc vào bên ngoài; phải đem sức ta mà giải phóng cho ta.

- Muốn tự lực, tự cường cần phải vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc.

+ Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm thì “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” là giá trị cao nhất; là mục tiêu chung tạo nên cơ sở khách quan thuận lợi cho đại đoàn kết dân tộc, nhờ đó mà toàn thể dân tộc Việt Nam sẵn sàng thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

+ Sau khi đã đuổi được ngoại xâm thì mục tiêu chung của đại đoàn kết hiện nay là, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  

- Muốn tự lực, tự cường cần phải phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “nhân dân” là phạm trù cao quý nhất. Người nói:  “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”

+ Người luôn nhấn mạnh phải động viên lực lượng của toàn dân, có dân là có tất cả. Sức mạnh ý chí tự lực, tự cường, đem sức ta mà giải phóng cho ta của toàn dân tộc được huy động và hiện diện to lớn, tạo thành tạo nên thành công vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc.

-   Muốn có được sức mạnh của ý chí tự lực, tự cường dân tộc thì phải có sự tổ chức chặt chẽ, có phương pháp cách mạng đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

+ Nhờ có phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng ta đã chủ động chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày, Cách mạng tháng Tám (năm 1945) diễn ra mau lẹ, ít đổ máu, giành thắng lợi hoàn toàn trên cả nước, khai sinh nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của của dân tộc Việt Nam...

+ Nhờ có phương pháp cách mạng đúng, Đảng ta đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân giành tháng lợi trong 2 cuộc kháng chiến và trong đổi mới hiện nay.  

-    Tự lực, tự cường không có nghĩa là coi nhẹ ngoại lực và sự giúp giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài.

+ Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” nhưng đồng thời phải củng cố tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn.

+ Phải biết kết hợp khéo léo, chặt chẽ giữa phát huy sức mạnh nội lực và sức mạnh ngoại lực, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng. Đề cao tự lực, tự cường nhưng không rơi vào biệt lập, cô lập.

-   Tự lực, tự cường không chỉ trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước mà còn phải tự lực, tự cường trong bảo vệ, giữ vững nền độc lập dân tộc; phát huy tinh thần lao động sáng tạo, xây dựng, phát triển đất nước.

+ Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ phải phát triển toàn diện kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp tới phát triển dịch vụ, mở ra mở rộng giao lưu kinh tế với các nước, trước hết là các nước anh em, các nước xã hội chủ nghĩa.

+ Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phong trào thi đua lao động ở các ngành, các giới đã được phát động, tổ chức theo tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai”, Phong trào “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Tay búa tay súng”, “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”… cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, góp phần tạo nên sức mạnh tổng lực, xây dựng vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho tiền tuyến miền Nam, đánh đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc

- Để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân: phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, xác định đó là con đường tất yếu đi tới ấm no, phồn vinh, hạnh phúc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.

+ Trong từng thời kỳ cách mạng, Người đã tiếp tục bổ sung, phát triển những quan điểm, lý luận về con đường cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng cho thấy, cội nguồn mọi thắng lợi của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh là do Đảng ta đã nhận thức đúng và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - là nhu cầu sống còn, là lựa chọn duy nhất của cách mạng Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

- Theo Người, để thực hiện hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì phải xây dựng được nền tảng kinh tế, xã hội vững chắc; giữ vững quốc phòng, an ninh. Để phát triển nền tảng kinh tế xã hội, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần:

+ Phải tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, coi đây là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường ấm no thực sự của nhân dân ta; phát triển công nghiệp nhưng đồng thời phải phát triển nông nghiệp, vì hai ngành đó khăng khít với nhau.

+ Phải cải tạo phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác, để tạo điều kiện cho công nghiệp hóa nước nhà; phải coi trọng nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, phục vụ sản xuất.

+ Coi trọng quản lý, hạch toán kinh tế, coi đây là chìa khóa phát triển kinh tế quốc dân. Chú ý chính sách mở cửa và hợp tác quốc tế, thu hút ngoại lực, hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước.

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quốc phòng, an ninh nhằm đảm bảo giữ vững thành quả của cách mạng dân tộc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm quân đội và công an thật sự là lực lượng nòng cốt để giữ vững quốc phòng, an ninh, đảm bảo chủ quyền, độc lập dân tộc, quyền lợi và hạnh phúc chính đáng của nhân dân.

+ Để phục vụ công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, phải phát triển văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, thực hành “đời sống mới” bao gồm: đạo đức mới, nếp sống mới, lối sống mới, thuần phong mỹ tục mới… Người nhấn mạnh, phải phát triển dân trí, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.  

-   Tư tưởng và lẽ sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tất cả lợi ích đều vì mục tiêu đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người mong muốn xây dựng được một xã hội tốt đẹp mà trong xã hội đó nhân dân lao động làm chủ, bình đẳng, không có chế độ người bóc lột người, một xã hội hoàn toàn mới, đầy tính nhân văn, mọi người dân có được nơi ăn, chốn ở yên ổn, được học nghề phù hợp để dần dần “tự lực cánh sinh”; nhân dân cũng được góp công vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc và được hưởng thành quả của cách mạng mang lại.

-   Người cũng luôn nhắc nhở, phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc phải trên cơ sở phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế, giá trị chung của nhân loại. Theo Người, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Việt Nam phải có cách làm, bước đi và biện pháp thích hợp, trên cơ sở nhận thức khoa học, đúng đắn theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

II. Quan điểm của Đảng về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, khát vọng dân tộc sẽ được cụ thể hóa dựa theo những tiêu chí như: Thời kì phong kiến, sau khi đã giành được độc lập, tự chủ thì khát vọng xây dựng xã tắc thái bình, thịnh trị là đích đến của các triều đại phong kiến.

- Năm sau 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập thì lý tưởng của toàn thể dân tộc là xây dựng đất nước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa; khát vọng dân tộc giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này chính là độc lập và tự do.

- Sau khi thống nhất đất nước, để thực hiện lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội, khát vọng dân tộc lại được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa dựa theo từng giai đoạn, từng lộ trình khác nhau. Đại hội VI, năm 1986 của Đảng khẳng định “đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”; Đại hội VII (1991) đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII (1996) đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; Đại hội IX (2001) xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm; Đại hội X (2006) xác định mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; Đại hội XI (2011) bổ sung phát triển Cương lĩnh 1991, quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế; Đại hội XII (2016) nhấn mạnh nâng cao chất lượng phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

 Đến Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng ta kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới:

+ Khẳng định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước. Đây là một trong số những chủ điểm có vị trí, ý nghĩa rất đặc biệt trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, là một nội dung chính trong chủ đề của Đại hội: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

+ Lần đầu tiên trong chủ đề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Báo cáo chính trị sử dụng cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là điểm nhấn rất quan trọng thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta.

+ Khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước là nguồn động lực để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình cùng Đảng và Nhà nước đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới.

+ Khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước là một trong những giải pháp hữu hiệu, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Đây là việc làm thiết thực để mỗi cán bộ, đảng viên phát huy cao độ ý thức, trách nhiệm, tinh thần cống hiến, lao động sáng tạo, phục sự Tổ quốc, phục sự dân tộc, phục vụ nhân dân; xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, làm tiền đề căn bản hướng đến năm 2045, khi nước ta kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ đạt mục tiêu “trở thành nước phát triển, thu nhập cao” như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Phần thứ hai

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH, PHÁT HUY Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG VÀ KHÁT VỌNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐỂ PHÁT TRIỂN THÁI BÌNH PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

 I. Nhận thức về ý chí tự lực, tự cường và mục tiêu khát vọng phát triển Thái Bình qua các thời kỳ

 Lịch sử phát triển nhân loại đã chỉ ra rằng, muốn đi tới đích đặt ra, trước tiên con người phải có khát vọng. Khát vọng phát triển là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng trong cùng quốc gia - dân tộc, địa phương, cơ quan, đơn vị đó, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc và mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị trên con đường xây dựng, phát triển.

Đối với Thái Bình, trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển của đất và người Thái Bình, nhận thức về ý chí tự lực, tự cường và những mục tiêu khát vọng phát triển quê hương phồn vinh, hạnh phúc có sự khác nhau, song tựu chung nó được thể hiện qua những nội dung sau:

1. Ý chí tự lực, tự cường của người đi tìm vùng đất mới

- Thái Bình là vùng đất mới bồi phù sa ven biển, chưa được khai phá, là nơi cửa biển “đầu sóng ngọn gió”, với nhiều hiểm nguy rình rập nên những lớp cư dân đến đây, bất cứ vì lý do gì, đến từ đâu và ở thời kỳ nào thì trước tiên phải là những người luôn mang sẵn trong mình tinh thần kiên cường, bất khuất, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng cháy bỏng về một sống no đủ nơi vùng đất mới.

- Để cư trú, định cư lâu dài, mở rộng địa bàn cư trú trên vùng đất mới, để thuần dưỡng đất đai, biến vùng đất mới, hoang sơ, sình lầy, chua mặn, lau lác, gò đống… thành vùng đất  phì nhiêu màu mỡ, xóm làng trù mật, “dân đông, vật thịnh”, là “kho người, kho của” cung cấp nhân tài, vật lực cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước ở mọi thời kỳ lịch sử thì các thế hệ cư dân Thái Bình phải luôn nêu cao tình thần, ý chí quyết tâm, cần cù, thông minh, sáng tạo, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn, bền bỉ san ghềnh, lấp trũng, đào sông, đắp đê, thau chua rửa mặn để khai đất, lập làng..

+ Từ thuở ban sơ trên mảnh đất này, không có người thủ lĩnh, không có người đứng đầu, người dân từ các hướng đổ về đã tự mình đứng lên khai hoang, lập làng, cải tạo đất hoang, sình lầy, lau lác, hoang sơ thành mảnh đất trù phú, màu mỡ. 

+ Dưới thời kỳ Bắc thuộc, với các chính sách đô hộ hà khắc của chính quyền phương Bắc, nhằm đồng hóa dân tộc ta nhưng vẫn không làm nhụt đi ý chí tự lực, tự cường của nhân dân Thái Bình; đến thế kỷ thứ X, đất đai Thái Bình đã được mở rộng, vùng Bố Hải Khẩu (khu vực TPTB hiện nay) đã là những xóm làng trù phú, cảnh “trên bến dưới thuyền” đời sống kinh tế phát triển sầm uất.

+ Trong suốt thời kỳ phong kiến, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển của đất và người Thái Bình phát triển lên tầm cao mới, thời kỳ này Thái Bình ghi dấu vùng quê giầu mạnh, là nơi “dụng phí nuôi quân”, “là kho của, kho người” của các triều đại phong kiến; thời kỳ đất đai, địa vực Thái Bình tiếp tục được mở rộng, đặc biệt đó là việc thành lập huyện Tiền Hải (năm 1828).

+ Sau năm 1945, việc khai hoang mở đất thời kỳ này đã đánh dấu sự phát triển và hoàn thành nhiều hệ thống đê sông, đê biển cùng hệ thống thủy lợi Bắc, Nam Thái Bình, hệ thống sông nội đồng, kênh rạch phục vụ tưới tiêu và diện tích đất canh tác được mở rộng.

Bên cạnh đó, dưới thời đại Hồ Chí Minh, ý chí tự lực, tự cường của người Thái Bình trong khai hoang, mở đất còn là những cuộc hành quân đi khai hoang mở đất, xây dựng vùng kinh tế mới trên khắp mọi miền của Tổ quốc đâu đâu cũng có dấu chân của những người con Thái Bình. Kế tục truyền thống của cha ông, những người con của quê hương Thái Bình luôn phát huy ý chí tự lực, tự cường, tiếp tục khai hoang, mở cõi, xây dựng cuộc sống nơi quê hương mới.

Như vậy, nhận thức về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã là ý thức thường trực trong các thế hệ cư dân Thái Bình.

2. Ý chí tự lực cánh sinh, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống áp bức, cường quyền, giành độc lập dân tộc và bảo vệ quê hương

Cư trú trên vùng đất mới ở nơi đầu sóng ngọn gió, cửa ngõ của biển Đông nên các thế hệ cư dân Thái Bình đã sớm hình thành tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất không cam chịu áp bức bóc lột, cường quyền và kẻ thù xâm lược để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

- Xuất phát từ địa thế chiến lược của vùng đất ven biển với các cửa sông lớn (5 cửa sông), Thái Bình được xác định là một trong những cửa ngõ hiểm yếu của Tổ quốc. Trong các cuộc chiến tranh ái quốc, trải qua hàng nghìn năm đương đầu với mọi kẻ thù, cư dân Thái Bình sớm phải chống chọi với các đạo quân xâm lược và hải tặc từ đường biển tiến vào các cửa sông để tiến đánh sâu vào nội địa.

+ Ngay từ buổi đầu Công nguyên đã có nữ tướng Vũ Thị Thục dựng cờ tụ nghĩa giúp Hai Bà Trưng dẹp quân Đông Hán.

+ Thế kỷ thứ VI, Lý Bí đã tựa, dựa vào đất này mà khởi binh đánh đuổi giặc Lương, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Đến thế kỷ thứ X, vùng đất Bố Hải khẩu (nay là thành phố Thái Bình) cơ sở để tướng quân Trần Lãm chọn cát cứ mà trở thành sứ quân mạnh nhất, làm nơi nương tựa cho Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân, thống nhất sơn hà, lên ngôi hoàng đế.

+ Thế kỷ XIII, Thái Bình không chỉ là đất dấy nghiệp của nhà Trần mà còn được chọn là địa bàn chiến lược trong kế sách chống giặc Nguyên - Mông. Trong ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông, Thái Bình trở thành hậu phương quan trọng cung cấp quân đội, lương thảo cho cuộc chiến và là tuyến phòng thủ quan trọng bảo vệ hành cung Thiên Trường.

+ Thế kỷ XVI nhà Mạc đã chọn vùng đất Phụ Dực (cũ) làm thánh địa để củng cố căn cứ Hải Đông. Dấu ấn thành lũy của nhà Mạc nay vẫn còn khá rõ trên vùng đất hai huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ.

+ Thế kỷ XVIII-XIX nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình chống lại sự cai trị hà khắc của triều đình phong kiến, với hai thủ lĩnh tiêu biểu lãnh đạo đó là Hoàng Công Chất (thế kỷ XVIII) và Phan Bá Vành (thế kỷ XIX).

+ Khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), ở Thái Bình đã sục sôi khí thế chống Pháp; ở Thái Bình đã sớm hình thành các căn cứ kháng Pháp lớn, do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo như: Nguyễn Mậu Động Trung (Kiến Xương), Doãn Khuê (Vũ Thư); Bang Tốn ở vùng Tam Nông, Đốc Nhưỡng (Hưng Hà), Phạm Huy Quang, Lãnh Hoan (Đông Hưng). Khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, hầu khắp các làng xã ở Thái Bình đã đồng loạt vũ trang Cần Vương

+ Trước khi Đảng ra đời, Thái Bình cũng là địa phương có phong trào cách mạng sôi nổi nhất. Đặc biệt từ khi Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (TQ) và tuyên truyền về trong nước, Thái Bình là tỉnh sớm thành lập được chi bộ Thanh niên và đến 1929 cũng là địa phương có tổ chức Đông Dương cộng sản Đảng ra đời sớm (chỉ sau Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ít ngày). Nhiều thanh niên ưu tú của Thái Bình thời kỳ này đã sang Quảng Châu dự lớp chính trị đầu tiên như: Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Danh Thọ... Đặc biệt, nhiều trí thức tiêu biểu của Thái Bình đã tích cực tham gia phong trào cộng sản và là đại biểu tham dự Hội nghị thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì như Nguyễn Đức Cảnh.

- Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thái Bình đã kiên cường, bất khuất trong đấu tranh, giành nhiều thắng lợi trong các cao trào cách mạng (1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945). Tiêu biểu ở thời kỳ này là 2 cuộc khởi nghĩa của nông dân Tiên Duyên Hưng và nông dân Tiền Hải năm 1930; Thái Bình được Trung ương đánh giá là tỉnh có phong trào cách mạng mạnh nhất Bắc Kỳ.

+ Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trong các làng xã ở Thái Bình luôn nêu cao ý chí tự lực cánh sinh, quân và dân Thái Bình đã có nhiều cách làm sáng tạo, với nhiều hình thức đấu tranh vũ trang, bán vũ trang, tiêu thổ kháng chiến, rào làng kháng chiến, phá bốt diệt đồn, chiến tranh du kích kết hợp bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong từng thời kỳ, trong từng trận đánh...được phát triển mạnh mẽ ở Thái Bình. Nhiều làng kháng chiến của Thái Bình đã gắn liền với những chiến công lớn được lịch sử ghi nhận, như làng Nguyên Xá (Đông Hưng) được tặng cờ “Làng kháng chiến kiểu mẫu”. Nhiều anh hùng LLVT tiêu biểu của Thái Bình trong chống Pháp như: Nguyễn Thị Chiên-nữ anh hùng đầu tiên; Tạ Quốc Luật-người cắm cờ trên nóc hầm Đờ cát.

+ Trong kháng chiến chống Mỹ: quân và dân Thái Bình đã kiên cường bất khuất, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, ghi dấu chiến công oanh liệt trên mặt trận sản xuất là thành tựu đạt 5 tấn/ha, là quê hương năm tấn đầu tiên của miền Bắc; trên mặt trận quân sự, chiến đấu bảo vệ quê hương, đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ (bắn rơi 44 máy bay, bắn cháy 4 tàu chiến Mỹ), góp phần quan trọng vào các cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đối với miền Bắc, được mệnh danh là “pháo đài bên bờ Biển Đông”. Thái Bình là một trong những tỉnh có tỷ lệ dân số tham gia quân đội cao nhất cả nước và trong chiến đấu của người con Thái Bình với nhiều tên tuổi đã khắc ghi vào lịch sử dân tộc ở các thời khắc quan trọng, như: Đại tướng Hoàng Văn Thái, Vũ Ngọc Nhạ, Bùi Quang Thận, Phạm Tuân...  

 3. Ý chí và khát vọng xây dựng và phát triển một miền quê giầu truyền thống văn hóa, văn hiến, khoa bảng

Không chỉ có ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng quê hương giầu đẹp về vật chất, các cư dân Thái Bình trong lịch sử còn nuôi dưỡng ý chí và khát vọng để xây dựng và phát triển một miền quê giầu truyền thống văn hóa, văn hiến, khoa bảng.

- Về lĩnh vực di sản văn hóa vật thể: Thái Bình hiện tồn tại trên 3.000 di tích, là các thiết chế văn hóa làng xã gồm các loại: đình, đền, chùa, miếu, phủ, điện, từ đường dòng họ... trong đó có 2 di tích Quốc gia đặc biệt, 114 di tích Quốc gia và 550 di tích cấp tỉnh. Cùng với các thiết chế đó là hàng chục nghìn các hiện vật, di vật được lưu giữ, bảo tồn tại di tích ở các huyện, thành phố và bảo tàng tỉnh. Trong đó có rất nhiều cổ vật và bảo vật quốc gia bằng nhiều chất liệu và loại hình (gỗ, đá, kim loại, giấy, vải, đất nung, gốm, sứ...).

- Về lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể: Thái Bình là điển hình của văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng; biểu hiện văn hóa này trước hết đã được hội tụ sâu sắc qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo mà sự phản ảnh rõ nét nhất là qua các lễ hội, trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian, múa dân gian,...

+ Ở Thái Bình ngày nay hầu như xã nào cũng có lễ hội truyền thống, xã ít là một lễ hội, xã nhiều có tới bốn lễ hội. Nhiều lễ hội có quy mô lớn như hội chùa Keo ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư; lễ hội đền Trần ở làng Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà; lễ hội đền Tiên La, đền Buộm ở xã Đoan Hùng, Tân Tiến (Hưng Hà); lễ hội đền A Sào, Đồng Bằng (Quỳnh Phụ),...

Cùng với các lễ hội truyền thống là các trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian, múa dân gian... trong đó có những điệu múa có lịch sử lâu đời như: giáo cờ giáo quạt ở làng Thượng Liệt, xã Đông Tân (Đông Hưng), múa bát dật ở làng Lộng Khê, làng Hiệp Lực xã An Khê (Quỳnh Phụ). Các trò chơi mang tính thượng võ, thi tài diễn ra ở trong các lễ hội làng nhiều địa phương như: chơi đu, vật cầu, thi vật, đánh gậy, kéo co hố, thi bơi trải, nấu cơm thi, làm cỗ, thi gói bánh chưng,...

+ Nghệ thuật diễn xướng dân gian ở Thái Bình rất đa dạng tuồng, hát ca trù, hát chầu văn, hát đúm, hát đò đưa, hát trống quân, cò lả... Nhưng nổi bật nhất là nghệ thuật hát chèo với chiếu chèo sân đình có mặt ở hầu hết các làng của Thái Bình. Thái Bình được coi là “cái nôi chèo” ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với hát chèo, múa rối nước, một loại hình sân khấu độc đáo, con đẻ của vùng sông nước cũng xuất hiện để nhắc tới Thái Bình là nhắc tới vùng quê “sớm rồi, tối chèo”.

-          Về truyền thống văn hiến, khoa bảng:

+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa và tri thức nên người Thái Bình đã sớm có truyền thống hiếu học; mặc dù đời sống kinh tế còn khó khăn, lại là nơi cách xa kinh kì, không thuận lợi về giao thông, nhưng Thái Bình đã trở thành vùng đất văn hiến, hiếu học, khoa bảng nổi trội, thời nào cũng có nhân tài, người đỗ đại khoa. Trải qua gần 1.000 năm Nho học, cả nước có gần 3.000 trí thức, đại khoa, trong đó Thái Bình có hơn 120 người[1]. Hầu hết các trí thức đại khoa của Thái Bình đều thực hiện được hoài bão lập công, lập ngôn, lập danh ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sự nghiệp kinh bang tế thế, nhiều nhà khoa bảng của Thái Bình đã có đóng góp trong cả hai lĩnh vực dựng nước và giữ nước. Các tác gia Thái Bình thời phong kiến có nhiều đóng góp vào các lĩnh vực sử học, văn học, luật pháp như: Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Đoàn Huệ Nhu, Nguyễn Tông Quai, Bùi Sĩ Tiêm, Đoàn Nguyên Thục, Nguyễn Quang Bích, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Can Mộng,... Trong đó tiêu biểu nhất và niềm tự hào của Thái Bình vẫn là tri thức uyên bác, bản lĩnh văn hóa trác việt của Bảng nhãn Lê Qúy Đôn - nhà bác học lớn của Việt Nam thời phong kiến. Ông đã để lại cho đường đại và hậu thế khối lượng trước tác đồ sộ, làm phong phú thêm kho tàng học thuật của nước ta, xứng đáng là “Ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho dân tộc, giống nòi”.

+ Trong truyền thống học hành, khoa bảng ở Thái Bình là truyền thống đỗ đạt của nhiều gia đình, dòng họ, làm nên làng khoa bảng. Trong các vị đỗ đại khoa ở Thái Bình có tới 6 trường hợp là cha con, 5 trường hợp là anh em, 4 trường hợp là ông cháu, và nhiều trường hợp là họ hàng cùng đỗ đại khoa.

+ Thời Pháp thuộc, những năm đầu của thế kỷ XX, chính quyền thực dân hạn chế mở mang trường học, những người yêu nước, những nho sĩ, quan lại người Thái Bình đã từ quan về quê mở trường dạy học; ở nhiều nơi trong tỉnh, phong trào học chữ quốc ngữ nở rộ, đã làm xuất hiện một đội ngũ trí thức mới và là lực lượng chính tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, họ trở thành những nhà hoạt động cách mạng, chiến sĩ, đảng viên cộng sản gieo hạt giống cách mạng, tiêu biểu như: Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Danh Đới...

+ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, truyền thống hiếu học, ý chí khát vọng vươn tới đỉnh cao tri thức của người Thái Bình lại được nhân lên gấp bội. Hưởng ứng Lời kêu gọi chống nạn thất học chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào bình dân học vụ ra đời và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, rộng khắp vùng quê. Ở các thôn xóm của Thái Bình thường xuyên có hàng chục vạn người đủ mọi tầng lớp theo học. Sáng, chiều bận lao động sản xuất thì tranh thủ học trưa, học tối... và Thái Bình vinh dự được Hồ Chủ tịch tặng sổ vàng; Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Ba tặng danh hiệu “Tỉnh quang minh”.

+ Phát huy truyền thống ấy, ngày nay Thái Bình là địa phương có phong trào học tập phát triển mạnh mẽ. Học sinh Thái B́nh vẫn giữ vững truyền thống hiếu học, học giỏi. Hằng năm, trong các kỳ thi quốc gia ở các cấp, học sinh Thái Bình luôn đạt giải cao, tỷ lệ đỗ vào các trường đại học, cao đẳng luôn ở top đầu của cả nước.

Có thể nói rằng, nhận thức về ý chí và khát vọng xây dựng phát triển một miền quê giầu văn hóa, khát vọng vươn tới đỉnh cao tri thức đã được các thế hệ cư dân Thái Bình nuôi dưỡng, hun đúc, gìn giữ và phát huy; ngày nay nó đã trở thành giá trị truyền thống, cùng với những truyền thống khác sẽ là nguồn sức mạnh nội sinh, cội nguồn tạo nên sức mạnh tinh thần, vượt qua khó khăn, thử thách để xây dựng quê hương Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc.

4. Ý chí tự lực, tự cường đó là sự vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương; không ngừng nêu cao ý chí khát vọng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Từ khi có Đảng ra đời và lãnh đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình luôn nhận thức sâu sắc về khơi dạy và phát huy ý chí tự lực, tự cường của quê hương, về mục tiêu khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, từ đó phát huy được ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngay trong khói lửa chiến tranh chống Mỹ ác liệt, phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển, Đảng bộ Thái Bình đã vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng, thực hiện thành công 2 nhiệm vụ chiến lược vừa chiến đấu, vừa sản xuất.

- Trên mặt trận quân sự, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại: Thái Bình là một trong những tỉnh có tỉ lệ dân số tham gia quân đội cao nhất cả nước (1,8%).

- Trên mặt trận kinh tế: mặc dù thiếu nguồn lao động, lao động trẻ khỏe huy động cho chiến chiến trường, còn lại chủ yếu là lực lượng phụ nữ, người già, trẻ em, trong điều kiện chiến tranh đánh phá ác liệt nhưng sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Bằng việc đề ra các mục tiêu phấn đấu hằng năm, từng giai đoạn: từ 3 tấn, 4 tấn rồi 5 tất/ha…; với những giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo khoa học sáng suốt, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên; Đảng bộ Thái Bình đã phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân; từ đó đã tạo thành khí thế thi đua sôi nổi, trở thành động lực nội sinh quan trọng, đưa Thái Bình lập nên những kỳ tích trong nông nghiệp, trở thành quê hương 5 tấn đầu tiên của miền Bắc.

Với thành tích đạt 5 tấn/ha, Thái Binh đã vinh dự được đón Bác về thăm lần thứ năm. Người căn dặn: phải “Làm cho Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt”. Lời căn dặn của Người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực, là nguồn cổ vũ động viên to lớn với Đảng bộ và nhân dân Thái Bình trong hành trình, khát vọng phát triển của tỉnh. Thực hiện lời căn dặn của Người, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với tinh thần “thóc thừa cân, quân vượt mức”, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình tiếp tục cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như: phấn đấu 6 tấn, 7 tấn/ ha và 7 tấn thóc - 2,8 con lợn - 1,3 lao động trên 1ha gieo trồng để hoàn thành tốt nghĩa vụ lương thực, thực phẩm với Nhà nước ... Đến những năm 1972-1974, nhiều HTX trong tỉnh đã đạt được mục tiêu 7 tấn và các chỉ tiêu 2,8 con lợn - 1,3 lao động trên 1ha gieo trồng. Những thành tựu đó, đã tạo điều kiện để Thái Bình là tỉnh luôn có đóng góp lương thực, thực phẩm nhiều nhất cho nhà nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

- Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế xuất phát điểm thấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp; tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp; để rút ngắn khoảng cách với các tỉnh trong khu vực, phát huy lợi thế của một tỉnh nông nghiệp, Thái Bình đã tập trung đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực.

+ Ngay từ những năm đầu thời kỳ đổi mới, Đảng bộ Thái Bình đã tập trung nghiên cứu hướng "đi ra, đi lên" từ một tỉnh nông nghiệp: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV xác định, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tập trung sức chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa; Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV xác định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn với chương trình Điện - Đường - Trường - Trạm, nước sạch và thông tin liên lạc; Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI đã xác định 8 nhiệm vụ và 5 trọng tâm cần tập trung để tạo bước đột phá tăng trưởng kinh tế. Trong thời kỳ này, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế[2]-xã hội, thể hiện ý chí khát vọng đưa Thái Bình phát triển nhanh, phá thế thuần nông.

+ Từ Đại hội XVII đến nay, các mục tiêu, nhiệm vụ thể hiện ý chí khát vọng tiếp tục  được định hình và xác định rõ nét. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII xác định: “sớm đưa Thái Bình thoát khỏi tỉnh nghèo và chậm phát triển”; Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII xác định: “nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 Thái Bình trở thành tỉnh nông thôn mới có nền nông nghiệp và công nghiệp theo hướng hiện đại”; Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX xác định “ huy động mọi nguồn lực, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đẩy mạnh phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để xây dựng tỉnh Thái Bình sớm có nền nông nghiệp, công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Thực hiện nghị quyết Đại hội qua các nhiệm kỳ, trong giai đoạn này Thái Bình đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đó là từng bước phá được thế “ốc đảo”, phá vỡ thế thuần nông, xây dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại; đặc biệt trong xây dựng nông thôn mới, đến hết năm 2019, đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn tỉnh, vượt trước 3 năm so với mục tiêu Đại hội XIX, có 100% dân cư nông thôn được cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt, vượt trước 2 năm so với mục tiêu Đại hội XIX.  

+ Trong bối cảnh tình hình mới, quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX xác định: Phấn đấu xây dựng Thái Bình đến năm 2025 trở thành tỉnh phát triển khá, đến năm 2030 theo kịp nhóm dẫn đầu và đến năm 2045 là tỉnh phát triển trong khu vực đồng bằng sông Hồng.

Như vậy, ý chí và khát vọng xây dựng quê hương Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc không phải là một khẩu hiệu suông mà ở từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử đã được Đảng bộ nhận thức và cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ và trở thành động lực để toàn Đảng bộ, toàn quân và nhân dân trong tỉnh cùng nỗ lực, phấn đấu. Với những lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh.

Nhận thức sâu sắc về ý chí tự lưc, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc từ lịch sử truyền thống cha ông để lại và quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay; về những thành tựu chúng ta đạt được cũng như những tồn tại hạn chế cần phải khắc phục sẽ là cơ sở, giúp toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân củng cố niềm tin vào mục tiêu  đến năm 2045 là tỉnh phát triển trong khu vực đồng bằng sông Hồng như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đề ra. Đạt được mục tiêu đó cũng chính là hành trình khát vọng để Đảng bộ và nhân dân Thái Bình hiện thực hóa lời căn dặn của Bác: “Làm cho Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt”, xây dựng Thái Bình phồn vinh hạnh phúc.

II. Mục tiêu, khát vọng xây dựng Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX

1. Bối cảnh tình hình và sự cần thiết phải phát huy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, đưa Thái Bình phát triển nhanh bền vững

- Thế giới đang trải qua một thời kỳ có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường:

+ Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau quyết liệt, giành vị thế và lợi ích gây ra tình hình phức tạp tại nhiều khu vực và nhiều nước; xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế, chiến tranh cục bộ, chiến tranh kinh tế, chiến tranh mạng, các hoạt động can thiệp, lật đổ, bất tuân dân sự, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, tài nguyên… diễn ra dưới những hình thức mới, gay gắt hơn. 

+ Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang là hai xu thế lớn, chi phối sâu sắc tiến trình phát triển của nhân loại, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia; đặt ra nguy cơ lớn về tụt hậu song cũng là điều kiện cho các nước đi sau thực hiện các bước phát triển rút ngắn qua việc tận dụng những thành quả phát triển của nhân loại.

- Trong nước, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tạo điều kiện để cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng; hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn, đặc biệt là tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng vừa đặt ra nhiều khó khăn, thách thức khi phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt  gay gắt hơn; các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta.

- Trong tỉnh, tình hình chính trị - xã hội tiếp tục ổn định; những thành quả và kinh nghiệm của hơn 35 năm đổi mới được phát huy.

+ Những dự án lớn được hoàn thành, phát huy hiệu quả, làm thay đổi vị trí địa chính trị, địa kinh tế của tỉnh, mở ra cơ hội mới, tạo động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn và du lịch làm hai bệ đỡ, sẽ góp phần cải thiện đáng kể năng lực sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong tỉnh.

+ Trình độ quản lý, năng lực chỉ đạo, điều hành của cán bộ, công chức được nâng lên; tiềm năng con người, truyền thống, nhất là khát vọng vươn lên và quyết tâm vượt khó là thế mạnh, nguồn lực to lớn cho sự phát triển.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khó khăn, hạn chế lớn, còn nhiều nút thắt, lợi thế, tiềm năng phát triển chưa được nhận thức và sử dụng, quản lý hiệu quả đó là::

- Về kinh tế:

+ Phát triển chưa vững chắc, quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp; chất lượng tăng trưởng chưa cao. Việc thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế và các ngành sản xuất còn chậm, chưa đạt yêu cầu; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào yếu tố vốn và theo chiều rộng, hiệu quả đầu tư chưa cao. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với khu vực và cả nước.

+ Nông nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, chủ yếu vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún; còn hiện tượng người dân bỏ ruộng không canh tác.

+ Phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng và công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ còn hạn chế. Chưa thu hút được nhiều dự án sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Đa số cơ sở sản xuất công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu là gia công và sản xuất các sản phẩm thông thường. Đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất trong các doanh nghiệp còn chậm. Chưa có nhiều sản phẩm đạt trình độ quốc gia và khu vực.

+ Một số loại hình dịch vụ phát triển còn chậm, chưa có các loại hình dịch vụ hiện đại, có tính hấp dẫn và bền vững cao. Lĩnh vực du lịch còn nặng tính tự phát, chưa phát huy được các tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

- Về xã hội:

+ Còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc khác cần được tiếp tục quan tâm giải quyết. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn một số yếu tố bất ổn.  

+ Công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao còn hạn chế. Hoạt động khoa học, công nghệ chưa tạo được sự đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

+ Việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá,  giáo dục truyền thống ở một số địa phương, cơ sở chưa được chú trọng đúng mức. Thể thao thành tích cao còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.

- Công tác xây dựng Đảng, chính quyền:

+ Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhân thực cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về phát huy truyền thống văn hóa yêu nước, cách mạng chưa được phát huy. Đặc biệt, chưa được phát huy mạnh mẽ tiềm năng lớn về truyền thống, văn hóa, con người.

+ Công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền cấp huyện, cấp xã một số mặt còn hạn chế. Chất lượng tham mưu, trách nhiệm thực thi công vụ ở một số sở, ngành, địa phương chưa cao. Đạo đức công vụ, ý thức nghề nghiệp của một bộ phận công chức, viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu.

+ Chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở một số địa phương, đơn vị chưa cao, chưa tích cực tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp, nổi cộm tại cơ sở.

+ Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở cấp sở, ngành, huyện và cơ sở còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng thuận cao; còn biểu hiện đùn đẩy, né tránh, gây bức xúc trong Nhân dân.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan; song suy cho cùng, chủ yếu vẫn là do các nguyên nhân chủ quan, trong đó sâu xa, căn cốt nhất xuất phát từ chúng ta chưa có chủ trương, giải pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; chưa coi đây là sức mạnh mềm để xây dựng quê hương phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bối cảnh xu thế ngày nay, việc xác định mục tiêu trước mắt và lâu dài và những giải pháp nào để thực hiện được các mục tiêu đó; đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh nhà phải tiếp tục ra sức phấn đấu, tranh thủ thuận lợi, tận dụng thời cơ, khắc phục hạn chế, yếu kém, vượt qua khó khăn, thách thức để phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt để thực hiện được mục tiêu, khát vọng phát triển, ngoài tiềm lực về điều kiện tự nhiên, khoa học công nghệ... thì ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của con người chính là sức mạnh tinh thần và điều kiện căn bản, cốt lõi, là nguồn lực nội sinh qúy báu cần phải biết khơi dậy một cách mạnh mẽ.

Vì vậy, để bắt nhịp kịp thời với sự phát triển chung của đất nước, không bằng lòng với kết quả đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thái Bình cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khơi dy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đưa Thái Bình phát triển nhanh, bền vững.

2. Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh hạnh phúc theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX

Trên cơ sở quán triệt các dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; đồng thời kế thừa nhận thức về mục tiêu khát vọng phát triển Thái Bình của các nhiệm kỳ đại hội trước đây, cũng như xuất phát từ bối cảnh tình hình, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân và yêu cầu đặt ra; mục tiêu tổng quát được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX xác định là: “Phát huy thành quả và kinh nghiệm của các nhiệm kỳ qua, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với bảo vệ môi trường; chú trọng phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Phấn đấu xây dựng Thái Bình đến năm 2025 trở thành tỉnh phát triển khá, đến năm 2030 theo kịp nhóm dẫn đầu và đến năm 2045 là tỉnh phát triển trong khu vực đồng bằng sông Hồng”.

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đó, Nghị quyết Đại hội cũng xác định 23 chỉ tiêu cơ bản phấn đấu giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045; trong đó xác định đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trên từng lĩnh vực cụ thể phù hợp với bước đi lộ trình phát triển và thực tiễn của tỉnh.

Để hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát triển đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã xác định 20 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trên các lĩnh vực xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh; đồng thời xác định 5 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và 3 khâu đột phá chiến lược. Qua đó thể hiện ý chí quyết tâm, khát vọng của Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân Thái Bình hướng tới tương lai, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

III. Một số giải pháp đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nêu cao ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân

 Để khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc đưa Thái Bình phát triển nhanh và bền vững, các cấp ủy, chính quyền Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

1. Nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị để khơi dậy sức mạnh đoàn kết, nguồn lực, ý chí và khát vọng phát triển

- Tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để khơi dậy sức mạnh, nguồn lực, ý chí của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng dân cư, địa phương, cơ quan, nêu cao ý chí quyết tâm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu và nhận thức sâu sắc về tiềm năng, lợi thế, thời cơ, thuận lợi và những khó khăn, vướng mắc; bối cảnh tình hình hiện nay; chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm được gì và chưa làm được gì để xứng đáng với tiềm năng, lợi thế và truyền thống của cha ông?

Vì vậy phải đẩy mạng tuyên truyền, khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực văn hóa, yêu nước và cách mạng của con người Thái Bình; thắp lên ngọn lửa khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; xây dựng, bồi đắp ý chí, nghị lực không cam chịu đói nghèo, tụt hậu từ đó chúng ta nêu cao ý chí, niềm tin, xác định tâm thế và trách nhiệm với địa phương, tập thể, cơ quan, đơn vị.

- Trong tuyên truyền cần chú trọng đổi mới hình thức cho phù hợp với đối tượng, địa bàn và phát triển của công nghệ thông tin. Nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh; đưa Chuyên đề năm 2022 vào sinh hoạt thường kỳ của các chi bộ, tổ chức, cơ quan, đơn vị, đoàn thể trng toàn tỉnh.

2. Tiếp tục đổi mới công tác tổ chức xây dựng Đảng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên

- Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ chốt các sở, ban, ngành, địa phương có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới; đặc biệt là phải xây dựng đội ngũ cán bộ giầu ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc.

- Thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Nâng cao chất lượng và tính nghiêm minh, kịp thời trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng.

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, sâu stc trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết, quy định của Trung ương, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị, xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là nhân tố quyết định, có khả năng phát huy cao nhất sức mạnh, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân.

3. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; nhất là nguồn nhân lực để đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phục vụ chuyển đổi số nền kinh tế.

- Xây dựng cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, để người tài thực sự mong muốn đem hết tâm huyết, khả năng cho quá trình phát triển của tỉnh. Chủ động đổi mới mạnh mẽ các khâu trong công tác cán bộ, nhất là khâu tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ.

4. Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách phát triển theo những định  hướng lớn, những khâu đột phá chiến lược để phát triển Thái Bình nhanh, bền vững đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh llần thứ XX xác định

- Tăng cường cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách phát triển để phục vụ chiến lược chuyển đổi số tỉnh Thái Bình, đáp ứng yêu cầu phát triển chính quyền số, nền kinh tế số, xã hội số. Đồng thời  xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội.

- Tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các trục giao thông đầu mối trong tỉnh với các trung tâm kinh tế vùng Duyên hải Bắc Bộ.

- Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, các nền tảng số, là tiền đề cho kinh tế Thái Bình có bước phát triển nhảy vọt, thay đổi về chất, tiến nhanh hơn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc.

 5. Xây dựng môi trường dân chủ, đảm bảo cho các ý tưởng đổi mới sáng tạo phát triển

- Để phát huy được ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng bằng được môi trường dân chủ, nhân văn, sáng tạo; để mọi ý tưởng, mong muốn đổi mới sáng tạo đều được trân trọng, được tạo điều kiện để thực hiện, là động cơ thúc đẩy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển.

- Rà soát, xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ của tập thể. Đồng thời phải có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ “bảy dám”; ý chí, khát vọng phát triển luôn gắn với tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

6. Tăng cường mối quan hệ và niềm tin của nhân dân; không ngừng chăm lo, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước

- Muốn phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển quê hương. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. 

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, trọng tâm là đổi mới phương pháp công tác quần chúng theo phương châm "gần dân, tin dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân"; phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

- Đẩy mạnh đổi mới phong trào thi đua yêu nước đi vào thực chất, hiệu quả để động viên, khuyến khích tạo khí thế thi đua sôi nổi; tinh thần lao động cống hiến quên mình trong trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kịp thời phát hiện biểu dương, ghi danh và tuyên truyền sâu rộng những cá nhân, tập thể điển hình, những cách làm hay trong học tập và làm theo Bác về sự tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng; tăng cường kiểm tra, giám sát và có hình thức kỷ luật nghiêm những cơ quan, địa phương, đơn vị, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân, gây bức xúc, phiền hà, nhũng nhiễu, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. 

IV. Trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị; cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang

1. Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, các tổ chức cơ quan, đơn vị

- Căn cứ vào điều kiện thực tiễn và chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị để cụ thể hóa ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đưa Thái Bình trở thành phát triển tỉnh phát triển nhanh, bền vững thành những mục tiêu cụ thể, gắn với nhiệm của tổ chức, cá nhân trong kế hoạch công tác thường xuyên hằng quý, hằng năm.

- Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đột phá và cụ thể hoặc một số công việc trọng tâm, nhằm khắc phục hạn chến khó khăn, bức xúc nổi cộm, điểm nghiễn… tồn tại từ lâu; xây dựng mô hình tiêu biểu để lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện xuyên suốt.

- Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, vận động Nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.

2. Đối với cán bộ, đảng viên

- Mỗi cán bộ, đảng viên phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, phải nhận thức sâu sắc và tự giác thực hiện bổn phận, trách nhiệm của bản thân, không ngừng nêu cao ý chí tự lực tự cường; từ đó truyền được cảm hứng cho nhân dân về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc. Muốn vậy phải gắn bó chặt chẽ, liên hệ mật thiết với Nhân dân, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

.- Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc về tiềm năng, lợi thế, điểm mạnh, điểm yếu, nhiệm vụ của địa phương và cá nhân trong tiến trình, con đường phát triển của tỉnh, của địa phương và của ngành, đơn vị mình. Khi có ý chí, khát vọng sẽ giúp mỗi cán bộ, nhất là người đứng đầu trăn trở, phân tích đúng nguyên nhân, tìm giải pháp để đề ra đường lối đúng, kiên định mục tiêu, sáng tạo và nỗ lực trong tổ chức thực hiện, nhằm xây dựng và phát triển tỉnh nhà toàn diện, bền vững.

- Người đứng đầu phải là tấm gương tiêu biểu cho ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển; có khả năng lan tỏa, truyền cảm hứng hành động cho mọi người, cho Nhân dân. Lãnh đạo chủ chốt các cấp phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, hết lòng vì nước, vì dân; vì địa phương, cơ quan, đơn vị; phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể. Đồng thời, luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, toàn diện, công tâm, công khai, minh bạch, chính xác, chống cục bộ địa phương, bè phái trong công tác cán bộ.

3.  Đối với đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị-xã hội

- Công nhân: Để xây dựng giai cấp công nhân của tỉnh hiện đại, lớn mạnh, giai cấp công nhân phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát huy tinh thần lao động sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển quê hương giầu mạnh.

-  Nông dân: Giai cấp nông dân Thái Bình cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phát huy ý chí tự lực, tự cường, phát huy truyền thống của nông dân Thái Bình trong lịch sử; khơi dậy ý chí tự hào “quê hương 5 tất” đầu tiên của miền Bắc. Từ đó nuôi dưỡng ý chí và khát vọng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu và vươn lên làm giầu. Trong bối cảnh tình hình mới, nông dân cần nhận thức sâu sắc thời cơ, thuận lợi và những khó khăn thách thức; từ đó đổi mới tư duy trong sản xuất nông nghiệp, loại bỏ tâm lý tiểu nông, manh mún, nhỏ lẻ để liên kết tổ chức sản xuất lớn; chuyển mạnh lối sản xuất, từ tư duy khối lượng sang tư duy giá trị, gắn với tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách nông nghiệp, nông dân và nông thôn, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; xây dựng nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp xanh, bền vững, tạo ra những bước chuyển vững chắc, góp phần xây dựng quê hương Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc.

- Phụ nữ: Mỗi hội viên phụ nữ phải khơi dậy ý chí, khát vọng, tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Thái Bình “anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang”, không ngừng phấn đấu vươn lên, nhận thức rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình với đất nước, quên hương, với gia đình, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ: “Phụ nữ phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập”. Nếu trước đây phụ nữ chỉ hướng đến việc nội trợ, chăm sóc gia đình thì phụ nữ ngày nay cần đặt ra lý tưởng sống với ý chí quyết tâm cao; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm tròn nghĩa vụ mới, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lý tưởng đó không bị giới hạn trong khuôn khổ gia đình mà cần vươn ra xã hội, tùy theo năng lực và điều kiện cụ thể mà đóng góp sức mình vào sự phát triển chung. Quyết tâm mới phải gắn liền với bản lĩnh dám nghĩ, dám nói, dám làm. Trên nền tảng truyền thống “công, dung, ngôn, hạnh”, phụ nữ thời đại mới cần mạnh dạn thể hiện mình với những phẩm chất đạo đức mới “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” nhằm thích nghi, đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội hiện đại trong tiến trình hội nhập quốc tế.

- Đoàn viên,sinh viên, học sinh, thanh niên, trí thức:  Để góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc, đòi hỏi thế hệ trẻ phải nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng xây dựng đất nước, quê hương và nhận thức rõ sứ mệnh, trách nhiệm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi đoàn viên, thanh niên phải luôn “cháy” trong mình ngọn lửa tinh thần khát vọng cống hiến; phải thể hiện ý chí, tài năng sức trẻ, sức sáng tạo không ngừng, thể hiện trách nhiệm với đất nước, quê hương bằng việc không ngừng học tập, sáng tạo, tiếp thu các công nghệ mới, nỗ lực vươn lên, đón nhận thời cơ mới, vượt qua khó khăn thách thức, ra sức khởi nghiệp, lập nghiệp. Thanh niên phải là lực lượng quan trọng kiến tạo những giá trị mới, thành công mới của đất nước. Thanh niên phải là những người xung phong đi đầu trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số của tỉnh; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; phải là những người đầu tiên, tích cực nhất trong hội nhập sâu rộng với thế giới. 

- Không ngừng nâng cao ý thức chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tránh phai nhạt về lý tưởng cách mạng, xa rời chính trị; tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; có lối sống trong sáng, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội; hội nhập với thế giới, tiếp thu các hay, cái đẹp của nhân loại, nhưng phải biết đấu tranh và khắc phục các biểu hiện của lối sống lai căng, thực dụng, tách biệt với xã hội, lối sống vô tâm, vô cảm, thờ ơ chính trị, đi ngược lại các giá trị văn hoá - đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 

- Trong một thế giới phẳng, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ số, kỷ nguyên công nghệ, “công dân toàn cầu”, đỏi hỏi tuổi trẻ phải không ngừng trau dồi các kỹ năng hội nhập, như bản lĩnh, kiến thức, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, tác phong công nghiệp, không chỉ hiểu biết văn hóa dân tộc, đất nước mình, mà còn phải hiểu biết tình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa thế giới... Đấu tranh loại bỏ các thông tin xuyên tạc, tiêu cực, phản động; tích cực tuyên truyền đến mọi người có cách tiếp nhận thông tin đúng đắn.

 - Cựu chiến binh: Cần nhận thức sâu sắc truyền thống anh hùng cách mạng của quê hương, giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hăng hái thi đua phát triển kinh tế, tham gia tích cực xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và giáo dục truyển thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

4. Đối với đội ngũ doanh nhân

-  Đội ngũ doanh nhân là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng quê hương, đất nước. Phải phát triển đội ngũ doanh nhân Thái Bình cả về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi, có đủ năng lực và bản lĩnh để đưa Thái Bình trở thành tỉnh giầu mạnh, văn minh. 

- Đội ngũ doanh nhân Thái Bình phải biết phát huy tinh thần dân tộc, truyền thống văn hóa, văn hiến, cách mạng của quê hương. Mỗi doanh nhân hãy góp phần làm giàu cho quê hương, đất nước, không chỉ bằng lòng với “giấc mơ nho nhỏ” riêng cho gia đình mình và doanh nghiệp mình”,  không chỉ là trách nhiệm với gia đình với doanh nghiệp mà còn là trách nhiệm trước vận hội của đất nước, quê hương, để tiến ra biển lớn, khẳng định trí tuệ và ý chí của người Thái Bình.

5. Đối với lực lượng vũ trang

Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được tiến hành trong điều kiện khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão đã và đang đặt ra cho chúng ta cả cơ hội và thách thức đan xen. Mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh Thái Bình phải kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống anh hùng cách mạng của quê hương, phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ, tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

 Không ngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu, nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước; làm chủ vũ khí trang bị; ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là trong lĩnh vực quân sự quốc phòng để không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của LLVT tỉnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

KẾT LUẬN

Với khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc và các mục tiêu cụ thể được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhưng để đi đến đích, cần sự nỗ lực, chung sức của toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân trong vai trò, vị trí cụ thể của mình. Do đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải ý thức được rằng việc ra sức hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao là tạo tiền đề về vật chất kỹ thuật cho khát vọng hùng cường của đất nước vào giữa thế kỷ. Mỗi thầy cô giáo phải có trách nhiệm hun đúc truyền thống quê hương, tinh thần đưa dân tộc, đất nước Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trong học sinh, sinh viên, những người sẽ trở thành lực lượng chủ yếu hiện thực hóa khát vọng này. Mỗi đảng viên, đoàn viên, hội viên cần làm lan tỏa khát vọng đó, tinh thần đó đến với mỗi người dân để tất cả cùng chung sức, chung tay vì sự lớn mạnh của đất nước, mà mỗi cá nhân sẽ cùng được thụ hưởng thành quả đó. Và, mỗi người lãnh đạo từng địa phương, đơn vị cần thể hiện rõ trách nhiệm xây dựng, phát triển địa phương, đơn vị của mình là góp phần tích cực vào sự hùng cường của đất nước, để đề ra những chủ trương, định hướng hợp lý và truyền được cảm hứng cho mọi người nỗ lực vì mục tiêu cao cả đó!

Trên tinh thần đó, việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần yêu nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng cống hiến, phát triển Thái Bình phồn vinh, hạnh phúc của các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và người dân sẽ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX.



[1] Theo nghiên cứu, thống kê từ các thư tịch cổ: các sách khoa lục, xem xét số người lấy đỗ ở mỗi khoa, thấy trong nhiều khoa thị, nhất là từ thời Lê sơ trở về sau, người Thái Bình thường chiếm tỷ lệ đỗ đạt cao, có tới hơn 10 khoa thi, người Thái Bình chiếm tỷ lệ đỗ từ 30% đến 50% tổng số người đỗ đạt. Đặc biệt khoa thi Nhâm Thân (1752), cả nước lấy đỗ 6 người thì Thái Bình có 4 người đỗ (Đỗ đầu là Tam nguyên bảng nhãn Lê Qúi Đôn (Hưng Hà), người đỗ thứ hai là Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục (Quỳnh Phụ), tiếp theo là tiến sĩ Nghiêm Vũ Đẳng (Thái Thụy) và tiến sĩ Nguyễn Xuân Huyên (Vũ Thư).

 

[2] Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 10-9-2001 “về chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi”; Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 2-8-2004 “về đẩy mạnh chăn nuôi”; Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 20-3-2002 “về dồn điền đổi thửa”; Nghị quyết 01-NQ/TU, ngày 5-6-2001 về “nghề và làng nghề”, Nghị quyết số 02- NQ/TU, ngày 17-7-2001 “về kinh tế biển”; Nghị quyết số 08-NQ/TU, ngày 10-4-2003 về “xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha”; đặc biệt, Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 28-4-2011 về “xây dựng nông thôn mới Thái Bình giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020”...

 

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Bình

CÁC TIN BÀI KHÁC

 
Phụ nữ Thái Bình học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
  • Nguyễn Thị Mận xã Vũ Vân - Vũ Thư được phong tặng Anh hùng Lao động khi vừa tròn 20 tuổi, chị đã có nhiều sáng kiến cải kiến kỹ thuật vận chuyển đất bằng xe cút kít, cầu lao... đưa năng suất lao động vượt từ 300 - 450%.
  • Nguyễn Thị Chiên (sinh 1930), quê ở Tán Thuật, Kiến Xương, nữ anh hùng đầu tiên của quân đội Nhân dân Việt Nam.Trong kháng chiến chống Pháp, chị đã chỉ huy đội nữ du kích Tán Thuật, chị tay không bắt giặc trên đường 39.
  • Nguyễn Thị Lộ (thế kỷ XV) quê ở làng Hải Hồ (Tân Lễ, Hưng Hà) người phụ nữ nhân từ, tài sắc, cùng chồng là Nguyễn Trãi giúp vua Lê Thái Tông trị vì đất nước, truyền dạy nghi thức triều đình.
  • Trần Thị Dung (?-1259) quê làng Phù Ngự (nay thuộc Liên Hiệp - Hưng Hà), người phụ nữ tài sắc vẹn toàn đã cùng với Thái sư Trần Thủ Độ tạo ra sự chuyển giao quyền lực từ triều đình nhà Lý suy tàn sang vương triều nhà Trần cường thịnh.
  • Từ năm 40 đầu công nguyên, nữ tướng Vũ Thị Thục đã chọn vùng đất Tiên La (Đoan Hùng - Hưng Hà) Thái Bình để dấy binh khởi nghĩa dưới cờ Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán được phong hàm "Đông Nhung đại tướng quân".
  • LIÊN KẾT WEBSITE